Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép

Luật gia Đỗ Minh Chánh
Bài viết: 17

Tuần qua, tôi nhận được thắc mắc của một bạn ở Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung: “Xin cho biết về hành vi cấu thành tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép theo quy định pháp luật?”

    Trả lời có tính chất tham khảo:

    Hiện nay, dịch bệnh Covid-19 đã và đang diễn ra một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết mang tính thời sự. Đó là dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của dịch Covid-19  gây ra trở thành mối nguy hiểm trên toàn cầu.

    Tại Việt Nam, ngay từ khi phát hiện những ca bệnh đầu tiên. Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo tích cực  và mang lại kết quả quan trọng trong việc triển khai phòng, chống dịch. Sau 99 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng, thì cuối tháng 7/2020, Việt Nam đã phát hiện ca lây nhiễm trong cộng đồng tại Thành phố  Đà Nẵng, lây lan và tái bùng phát. Trong khi đó, liên tiếp những ngày gần đây, cơ quan an ninh đã bắt được rất nhiều nhóm người đưa người nước ngoài nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Đây là một trong số nguyên nhân nguy cơ xâm nhiễm dịch bệnh từ bên ngoài là rất cao. Hành vi tổ chức đưa người người nước ngoài, trong đó phần lớn từ Trung Quốc, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam không chỉ là mối nguy hại cho những nỗ lực phòng dịch mà cả nước đã đạt được trong suốt thời gian qua, mà còn liên quan đến an ninh, trật tự quốc gia. Các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần vào cuộc một cách khẩn trương, quyết liệt để khởi tố, điều tra đường dây đưa người bất hợp pháp để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Để xử lý nhóm người này, cần khởi tố “Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép” theo quy định của BLHS và xét xử mức án thật nghiêm khắc.

    Điều 348 quy định bốn tội gồm:Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; Tội môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép; Tội môi giới cho người khác ở lại Việt Nam trái phép.

    Tội phạm này về mặt khách thể trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú ở Việt Nam. Tội phạm này được quy định nhằm đấu tranh phòng chống các hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, hoặc ở lại Việt Nam trái phép.

    Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực TNHS.

    Điều luật quy định bốn tội gồm:

    – Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép. Đây là hành vi vụ lợi chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy giúp người khác ra khỏi biên giới Việt Nam hoặc vào lãnh thổ Việt Nam không có giấy phép theo quy định của pháp luật về xuất, nhập cảnh. Thể hiện ở hành vi lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, lôi kéo nhằm đưa người khác đi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đi vào lãnh thổ Việt Nam không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thu lợi bất chính.

    – Tội môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép: thể hiện ở hành vi dẫn dắt, làm trung gian cho người có nhu cầu xuất cảnh hoặc nhập cảnh trái phép với người có khả năng tổ chức cho người khác xuất cảnh hoặc nhập cảnh trái phép nhằm giúp người khác đi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đi vào lãnh thổ Việt Nam không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thu lợi bất chính.

    – Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép: thể hiện ở hành vi lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, lôi kéo nhằm giúp người nước ngoài ở lại Việt Nam không được phép của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam để thu lợi bất chính.

    – Tội môi giới cho người khác ở lại Việt Nam trái phép: thể hiện ở hành vi dẫn dắt, làm trung gian cho người có nhu cầu ở lại Việt Nam trái phép với người có khả năng tổ chức người nước ngoài ở lại Việt Nam trái phép nhằm giúp người nước ngoài ở lại Việt Nam không được phép của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam để thu lợi bất chính.

    Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi nêu trên.

    Tội phạm này thực hiện do lỗi cố ý có động cơ vụ lợi. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và mong muốn thực hiện hành vi đó.

    Điều 348 BLHS năm 2015 quy định 3 khung hình phạt:

    – Khung hình tù từ 01 năm đến 05 năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng.

    – Khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp:

    + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    + Phạm tội 02 lần trở lên;

    + Đối với từ 05 người đến 10 người;

    + Có tính chất chuyên nghiệp;

    + Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

    + Tái phạm nguy hiểm.

    – Khung hình phạt quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    + Đối với 11 người trở lên;

    + Thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên;

    + Làm chết người: đây là trường hợp người phạm tội vô ý gây ra hậu quả chết người.

    – Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.