Sầm Sơn (Thanh Hóa): Các cơ quan chức năng sớm vào cuộc làm rõ và giải quyết bức xúc của công dân

Hoàng Thị Nga
Bài viết: 36

Theo phản ánh, bà Hà Thị Lai là bị đơn trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất đã có đơn kháng cáo toàn bộ bản án gửi đến các cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND TP Sầm Sơn vì cho rằng tòa án cấp sơ thẩm đã đưa ra một bản án thiếu khách quan làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

a7df0a9314d4dc8a85c5-1635148489.jpg
Phần đất tranh chấp được đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng Xét xử sơ thẩm đình chỉ giải quyết.

Bỗng dưng mất đất…

Theo bà Hà Thị Lai (trú tại khu phố Long Sơn, phường Bắc Sơn, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá), năm 1993, bố của bà là cụ Hà Văn Vinh có mua lại của Hợp tác xã Thủ công nghiệp Sơn Quang 04 gian nhà cấp 4 đã hỏng và được quyền sử dụng 68m2 đất tại thửa số 206, tờ bản đồ số 01, hồ sơ địa chính 229. Khi mua có giấy tờ mua bán. Trước khi cụ Hà Văn Vinh mất, đã cho bà Hà Thị Lai và em gái là bà Hà Thị Xuân mảnh đất đó để sử dụng.

Trước đó, mảnh đất là của cụ Phan Thế Nụ (đã mất). Trong khoảng thời gian năm 1973 đến năm 1981, cụ Phan Thế Nụ có đổi đất lấy thóc cho Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Sơn để Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Sơn xây dựng công trình phúc lợi (nhà mẫu giáo và nhà máy xay xát).

Năm 1985, Hợp tác xã Nông nghiệp Hợp Sơn bàn giao cho Hợp tác xã Thủ công nghiệp Sơn Quang tiếp tục sử dụng.

Trước khi giải thể năm 1995, thì năm 1993, Hợp tác xã Thủ công nghiệp Sơn Quang bán thanh lý phần tài sản trên đất và đã được cụ Hà Văn Vinh mua lại cùng quyền sử dụng đất.

 Trong quá trình sử dụng từ trước đến nay, gia đình bà Lai đã nhiều lần sang sửa, hàng năm vẫn nộp thuế đất cho Nhà nước.

Theo hồ sơ địa chính 229, thửa đất tranh chấp là thửa số 26, tờ bản đồ số 01, diện tích 105m2, chủ sử dụng mang tên Hợp tác xã Nông nghiệp Hợp Sơn. Hồ sơ địa chính 382 lập năm 1995 là thửa số 144 (do gộp 02 thửa 204 và 206), tờ bản đồ số 15, diện tích 829m2, chủ sử dụng đất ghi chú thích: Khu đất đang tranh chấp.

Đến năm 2010, trong sổ mục kê ruộng đất ghi nhận phần đất tranh chấp là thửa số 77, tờ bản đồ số 45, tên chủ sử dụng là Hà Văn Vinh, diện tích 66,3m2. Sau khi cụ Vinh mất thì bà Lai tiếp tục sử dụng đất và nhà cho đến nay.

Khẳng định nguồn gốc đất trên là của gia đình mình, ông Phan Thế Sắn (con cụ Phan Thế Nụ) đã làm đơn khởi kiện đề nghị TAND TP Sầm Sơn giải quyết buộc bà Lai phải tháo dỡ tài sản trên đất, trả lại quyền sử dụng đất 66,3m2, thuộc thửa số 77, tờ bản đồ số 45 tại khu phố Bắc Nam cho gia đình ông.

Ngày 01/7/2021, TAND TP Sầm Sơn đã đưa vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Phan Thế Sắn và bị đơn là bà Hà Thị Lai ra xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định diện tích đất tranh chấp là của gia đình cụ Phan Thế Nụ (bố ông Sắn); buộc bà Lai và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hà Thị Xuân phải giao lại diện tích đất tranh chấp 52,3m2, tại thửa số 206, tờ bản đồ số 01, hồ sơ địa chính 229 đo năm 1984 (nay là thửa số 77, tờ bản đồ số 45, hồ sơ địa chính năm 2010) tại khu phố Bắc Nam cho ông Phan Thế Sắn.

Nhiều khuất tất cần làm rõ

UBND phường Trường Sơn cho biết, trước thời điểm 1980, UBND phường không có tài liệu, sổ sách lưu giữ về đất đai đối với thửa đất tranh chấp. Đến thời điểm khoảng tháng 12/1980, khi lập hồ sơ địa chính 229 thì Hợp tác xã Nông nghiệp Hợp Sơn đang quản lý, sử dụng làm nhà mẫu giáo và sau đó làm nhà máy xay xát lúa. Sau đó, Hợp tác xã Nông nghiệp Hợp Sơn chuyển giao cho Hợp tác xã Thủ công nghiệp Sơn Quang sử dụng, đến năm 1993 thì bán tài sản thanh lý tài sản trên đất cho cụ Vinh. Khi Hợp tác xã Thủ công nghiệp Sơn Quang giải thể thì UBND phường quản lý.

Như vậy, theo các căn cứ kể trên, thửa đất bị tranh chấp thuộc quyền sở hữu của bà Lai. Vì bố ông Sắn đã đổi đất lấy thóc cho Hợp tác xã Nông nghiệp Hợp Sơn và bố bà Lai đã mua lại thửa đất đó và đóng thuế sử dụng đất từ năm 1993 đến nay.

Bên cạnh đó, vụ việc đã được giải quyết bằng quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền về quyền sử dụng thửa đất trên là thuộc về bà Lai. Cụ thể, khi nhận được đơn khiếu nại của ông Sắn, ngày 16/7/2013, Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn đã có Quyết định số 1458 với nội dung không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của ông Sắn.

Ngày 18/3/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá đã có Quyết định số 719 giải quyết khiếu nại lần 2, giữ nguyên Quyết định 1458 đối với khiếu nại của ông Sắn.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền; theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ những quy định nêu trên, việc tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Sắn đã được đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá giải quyết khiếu nại lần 2 bằng Quyết định số 719 ngày 18/3/2014: “Giữ nguyên Quyết định số 1458 đối với khiếu nại lần 2”. Trường hợp TAND TP Sầm Sơn, khi tiếp nhận đơn khởi kiện của ông Sắn, phát hiện vụ việc tranh chấp quyền sử sụng đất đã được giải quyết bằng một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có hiệu lực pháp luật, phải trả lại đơn khởi kiện và nêu rõ lý do. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, TAND TP Sầm Sơn mới phát hiện tranh chấp quyền sử sụng đất của ông Sắn đã được giải quyết bằng Quyết định số 719 ngày 18/3/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá, có hiệu lực pháp luật, phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án tranh chấp đất đai của ông Sắn với tư cách là nguyên đơn.

 Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, TAND TP Sầm Sơn đã biết việc tranh chấp quyền sử dụng đất đai giữa ông Sắn là nguyên đơn với bị đơn là bà Hà Thị Lai đã được giải quyết bằng Quyết định số 719 ngày 18/3/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, vẫn ra một bản án, để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Sắn với bà Lai là trực tiếp xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hà Thị Lai, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Ngoài ra, theo hồ sơ địa chính 229, thửa đất gia đình cụ Nụ là thửa đất số 204, tờ bản đồ số 01, diện tích 640m2 đứng tên ông Sắn, còn thửa đất tranh chấp là thửa 206, tờ bản đồ số 01, diện tích 105m2 đứng tên Hợp tác xã Nông nghiệp Hợp Sơn. Việc gia đình ông Sắn khởi kiện đòi diện tích đất thửa 206, tờ bản đồ số 01 là không có căn cứ vì gia đình không có giấy tờ nào đứng tên trong sổ sách. Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 6 Luật Đất đai năm 2013 thì Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai.

Tại phiên toà xét xử sơ thẩm, đại diện Viện KSND TP Sầm Sơn đã đưa ra quan điểm giải quyết vụ án: Trước đó, Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn và Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần một và lần hai của ông Phan Thế Sắn (Quyết định số 1458 và Quyết định số 719). Cả hai quyết định đều được đề cập trong hồ sơ vụ án. Việc ông Sắn kiện đòi lại đất đã được giải quyết bằng quyết định hành chính, có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 44 Luật Khiếu nại 2012 đề nghị Hội đồng Xét xử đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn.

Bà Hà Thị Lai đã có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm lên cấp xét xử cao hơn để đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.

Dư luận đang rất quan tâm đến các thông tin nói trên và hy vọng các cơ quan chức năng sớm vào cuộc thanh tra, kiểm tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://truyenthongvnn.vn/kinh-doanh-doi-song/sam-son-thanh-hoa-cac-co-quan-chuc-nang-som-vao-cuoc-lam-ro-va-giai-quyet-nhung-buc-xuc-cua-cong-dan.html