Hành vi lấn chiếm đất trến phần đất người khác đứng tên chủ sở hữu hợp pháp đã diễn ra ở một số địa phương, nơi thì chính quyền xử phạt hành chính yêu cầu khôi phục hiện trạng ban đầu, tháo dỡ phần diện tích đất đã lấn chiếm… Nơi thì lại “hướng dẫn” người dân khởi kiện ra tòa án,… Việc xử lý hành vi này được hiểu thế nào cho phù hợp?
Cụ thể như trường hợp của vợ chồng chị Hồ Thị Thùy Trang, ngụ ở xã Tân Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre (nay là Ấp Tân Đức A, xã Tân Thành Bình, tỉnh Vĩnh Long) đã có đơn trình báo chính quyền địa phương về việc một người mới đến mua đất sát bên tổ chức thi công lấn chiếm trên phần đất mà trước đó vợ chồng chị tích cóp mua lại, dành dụm tiền cất nhà,… Chính quyền địa phương giao địa chính đến kiểm tra, xác minh và phát hiện hành vi lấn chiếm đất như đơn trình báo của chị Thùy Trang. Nhưng sau đó đã "hướng dẫn” chị Thùy Trang khởi kiện đến tòa án…
Với vụ việc nêu trên, có thể thấy pháp luật quy định rất rõ về hành vi:
Lấn đất được hiểu là hành vi của người sử dụng đất cố ý hoặc vô ý dịch chuyển mốc giới, ranh giới thửa đất đã được xác lập hợp pháp để mở rộng diện tích đất đang sử dụng. Hành vi này xảy ra khi người sử dụng đất tự ý thay đổi ranh giới thực tế so với ranh giới được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất hoặc so với ranh giới đã được xác định giữa các thửa đất liền kề, mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không có sự đồng ý của người sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích đất bị lấn. Bản chất của lấn đất là việc mở rộng diện tích đất sử dụng vượt quá phạm vi quyền sử dụng đất đã được xác lập hợp pháp, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước hoặc của người sử dụng đất liền kề (khoản 31 điều 3 Luật Đất đai 2024).
Chiếm đất là hành vi sử dụng đất khi chưa có căn cứ pháp lý hợp lệ. Cụ thể, chiếm đất bao gồm việc sử dụng đất do Nhà nước đang trực tiếp quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép sử dụng đất; hoặc việc sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác mà không được sự đồng ý của người sử dụng đất đó. Hành vi chiếm đất thể hiện sự xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ quản lý đất đai của Nhà nước cũng như quyền sử dụng đất hợp pháp của các chủ thể khác, làm phát sinh tranh chấp và gây mất trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai (theo quy định khoản 9 điều 3 của Luật Đất đai 2024).
Trường hợp hành vi lấn chiếm đất chưa đến mức truy cứu hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức xử phạt đối với hành vi này được quy định rõ tại Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai… Người bị xâm hại có thể khởi kiện đến tòa án theo quy định tại 236 Luật Đất đai 2024 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Mặt khác, tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Theo quy định tại điều 228 của Bộ luật Hình sự 2015, người nào có hành vi lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai mà đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục vi phạm, thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với trường hợp này, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
Trường hợp hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng hơn, cụ thể như phạm tội có tổ chức, thực hiện hành vi phạm tội từ hai lần trở lên hoặc thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì mức hình phạt sẽ được áp dụng nghiêm khắc hơn. Khi đó, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 2 tỷ đồng hoặc bị phạt tù với mức án từ 02 năm đến 07 năm.
Ngoài các hình phạt chính nêu trên, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả gây ra. Quy định này thể hiện tính răn đe, phòng ngừa và bảo đảm việc quản lý, sử dụng đất đai được thực hiện đúng theo pháp luật.




