Đối với thủ tục kháng nghị Giám đốc thẩm: Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau:

- Kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại về quyền và lợi ích của đương sự;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm đương sự không thực hiện được quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ;

- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến bản án không đúng;

Thời hạn kháng nghị Giám đốc cũng được quy định là: 03 năm có thể kéo dài thêm 02 năm kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị nếu có đủ các điều kiện sau: Đương sự đã có đơn đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị xem xét kháng nghị và sau khi hết thời hạn kháng nghị vẫn tiếp tục có đơn đề nghị; Căn cứ kháng nghị là bản án có hiệu lực vi phạm pháp luật, xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bên thứ ba, xâm hại đến lợi ích công cộng và kháng nghị để khắc phục sai lầm của bản án đó (Điều 334 Bộ luật Tố tụng ân sự 2015).

can-cu-khang-nghi-1793877898.png
Căn cứ kháng nghị Giám đốc thẩm và Tái thẩm vụ án dân sự.

Đối với thủ tục kháng nghị Tái thẩm: Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì có 4 căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, gồm:

- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

- Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

- Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ. Có quan điểm cho rằng tình tiết quan trọng của vụ án mới được phát hiện phải là tình tiết xuất hiện trước hoặc trong quá trình giải quyết vụ án mà Tòa án, đương sự không thể biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. Quan điểm khác cho rằng tình tiết mới xuất hiện sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án cũng có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định của Tòa án.

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm: Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm như sau: “Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015”.