Cụ thể như trường hợp của chị Lê Thị Út M, ngụ ở Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đã nộp đơn khởi kiện vụ việc liên quan đến quyền sử dụng đất (cấp, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) ở Tòa án cấp huyện nơi mình cư trú vào thời điểm chưa sáp nhập các địa phương… TAND cấp huyện đã phân công thẩm phán giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử, hiện đang được TAND cấp tỉnh thụ lý phúc thẩm…
Liên quan đến nội dung trên có thể thấy theo khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, theo đó: Quyết định cá biệt là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể; Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó; Ngoài ra quyết định cá biệt còn được sử dụng trong một số trường hợp cụ thể sau:
- Quyết định dùng để áp dụng một quy phạm pháp luật dùng trong một lần và áp dụng cho một hay một số đối tượng cụ thể nhất định;
- Quyết định cá biệt trực tiếp làm cho phát sinh và thay đổi, chấm dứt về mối quan hệ pháp luật hành chính;
- Đưa ra các chủ trương, biện pháp hoặc các quy tắc xử sự một công việc cụ thể cho đời sống xã hội để thực hiện chức năng về quản lý.
Do đó, trong vụ việc dân sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (ví dụ: Yêu cầu hủy Quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), việc xác định thẩm quyền của Tòa án phải căn cứ vào khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015, theo đó, Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 để xác định thẩm quyền của Tòa án trong vụ việc này cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể sau đây:
- Kể từ ngày 01/7/2016, trường hợp trong đơn khởi kiện vụ án dân sự, người khởi kiện nêu rõ yêu cầu hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và gửi đơn khởi kiện đến Tòa án cấp huyện thì Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện quyết định chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án cấp tỉnh và thông báo cho người khởi kiện theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện chưa có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng sau khi Tòa án cấp huyện thụ lý giải quyết, họ mới có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thì cần lưu ý 02 trường hợp:
(1) Tòa án cấp huyện thụ lý vụ án dân sự sau ngày 01/7/2016 thì căn cứ khoản 1 Điều 41 và khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án cấp huyện ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết.
(2) Tòa án cấp huyện thụ lý vụ án dân sự trước ngày 01/7/2016 nhưng kể từ ngày 01/7/2016 mới phát sinh yêu cầu hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thì căn cứ khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án cấp huyện chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết. Trường hợp này không áp dụng khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 để Tòa án cấp huyện tiếp tục giải quyết vì khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 quy định về trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính (không phải vụ án dân sự)…
Như thế đã rõ, đối với các vụ án dân sự, hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất (cấp, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thẩm quyền giải quyết thuộc về TAND cấp tỉnh.




